Tools
Login
You are here: Trang chủ » KHÁM PHÁ » Phong thủy » Địa lý toàn thư (kỳ 103)
Thứ ba, 12 Tháng 12 2017
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

Địa lý toàn thư (kỳ 103)

Email In PDF.

THANH NANG TỰ

Thư Hùng chính là Âm Dương, cũng bao gồm cả hình thế và phươn vị.

Xem phong thủy trước tiên phải xem Kim Long có động thế hay không, thứ đến là quan sát huyệt mạch để nhận biết Lai Long.

Phương hướng của huyệt tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi cùng bốn (4) vì tinh tú Lâu, Cang, Ngưu, Quỷ ngầm có Kim Sát, trường hợp này gọi là Kim Long. Tìm Long mạch trước hết phải xem Khứ Thủy bắt nguồn từ đâu. Nếu thủy khẩu của Khứ Thủy đóng tại phương Thìn, nên tìm Long ở bên trong, trong đó có Tân Nhâm Long có thể hợp mạch, còn cần phải xem Âm Dương của mạch tới, cho nên nói:

“Thứ đến quan sát huyệt mạch để biết Lai Long”.

Vào núi phải tìm Thủy Khẩu, lên huyệt cần xem Minh Đường. “Tuyết Tâm Phú” có viết:

“Tìm Thủy Khẩu chính là nói Thủy Khẩu của Thìn Tuất Sửu Mùi”.

Đây là Yếu quyết vào núi tìm kiếm Lai Long.

Lai Long phân Âm Dương, Âm hành tiến bên phải, Dương hành tiến bên trái; Thủy chính là Tam Nghĩa. Âm Dương và Tam Nghĩa sản sinh ra phần mộ hưng vượng.

Lai Long ở phía Nam giang thủy, đầu nó sẽ quay về giang Bắc; Lai Long từ phía Tây giang thủy, đầu nó sẽ quay về giang Đông.

Đây chính là Long chuyển thuận theo Thủy.

Vì thế thánh nhân khi xưa chiêm bốc Hoàng Hà và Lạc Thủy. Sông Triều và sông Giản cùng hội lưu tại Hoàng Hà và Lạc Thủy, quan sát vị trí âm dương lưu thủy của chúng, bất luận là chiêm bốc nhật nguyệt hay nhà cửa, nơi này mãi là nguồn gốc phát sinh phú quý, công danh.

Hai con sông giao hội tiến vào trong huyệt, trước mặt có Chu Tước Sơn, thế thì muốn lấy sinh vượng khí cần lấy ở trong huyệt, thế gọi là Nội Tiếp Sinh Khí. Nếu là Chu Tước Thủy, muốn lấy sinh vượng khí phải lấy ở mặt trước huyệt, thế gọi là Ngoại Tiếp Đường Mi. Ở đây muốn nói, muốn để sinh vượng khí chảy tới trước mặt huyệt và đi ra từ phía sau Mộ Khố. Huyền chính là Thủy, Thủy không có vị trí và hình thể cố định, Âm và Dương biến hóa tùy vào sự thay đổi của nó, thế gọi là Không. Chu Tước phát nguồn quay đầu nhìn Tổ sơn, như vậy mới có khí sinh vượng tới Minh Đường.

Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Sơn chủ sơn, Thủy quản Thủy, đó là Âm Dương.

Nhất là Chính Khí của Ngũ Hành, khí của Ngũ Hành xuất hiện trong sơn thủy, có khác biệt của Âm và Dương. Âm hành tiến bên phải, Dương bên trái, phân rõ Âm Dương chính là nhị. Đến Thân Tý Thìn Khôn, Ất Nhâm Tam Hợp. Như vậy từ Nhất Khí có thể biết rõ Âm Dươn, nhận rõ Tam Hợp, có thể thấy được khí sinh vượng. Sơn chủ Sơn, Thủy quản Thủy, dùng điều này để quan sát Thủy, Sơn thì phải nói tới Âm Dương, Ngũ Hành Tam Hợp và khí sinh vượng của Thủy, Sơn; dù chúng thuận hay nghịch cũng đều có nguồn gốc riêng; dù là Sơn hay là Thủy, chúng đều có sinh khí riêng. Dùng phương pháp này để xem sơn thủy, thì sự quý tiện, cát hung của chúng đều hiện rõ.

Xem địa lý cần biết rõ đạo huyền diệu của Âm Dương, cần biết rõ suy bại hưng vượng và sinh tử do nó mang tới, có như thế mới tránh được sai lầm.

Biết rõ đạo lý trái phải thuận nghịch, ắt biết được sinh tử và suy bại hưng vượng. Sơn có Âm Dương của Sơn, Thủy có hưng vượng của Thủy. Thủy tùy theo Long, Thủy có Âm Dương của Thủy. Thủy theo phương hướng của Long, có chút không phù hợp với Long thế.

Người xem địa lý có khi xem Tử Huyệt thành Sinh Huyệt. Ví dụ như Bính Ling có khi từ phương Bính hướng về Dương, như vậy sẽ sinh tại Dần, tử tại Dậu. Chỉ cần sơ xuất nhỏ bé cũng dẫn tới sai lầm to lớn. Vậy làm sao để chọn được huyệt địa, không thể không thận trọng.

La Kinh của Tiên Thiên có 12 chi, sau đó lại dùng chúng với Duy của Hậu Thiên, Bát Can Tứ Duy phò tá Chi, phụ mẫu tử tôn từ đây mà có.

Hà Đồ của Tiên Thiên có 12 chi, sau người a dùng Lạc Thư trừ đi 2 chi Tuất Tỵ, dùng Bát Can trừ đi Tứ Chính mà dùng Tứ Duy, do vậy tám phương vị mới được định.

Tý, Dần, Thìn, Càn, Bính, Ất thuộc Kim là Nhất Long, được gọi là Phụ (cha) Danh Thiên Bảo Kinh.

Ngọ, Thân, Tuất, Khôn, Nhâm, Tân thuộc Mộc là nhị Long, được gọi là Mẫu (mẹ) Danh Long Tử Kinh.

Mão, Tỵ, Sử, Cấn, Canh, Đinh thuộc Thủy là tam Long, được gọi là Từ (con) Danh Huyền Nữ Kinh.

Dậu, Hợi, Mùi, Tốn, Giáp, Quý thuộc Hỏa là tứ Long, được gọi là Tôn (cháu) Danh Bảo Chiếu Kinh.

Nhất Long và tam Lon là Dương; nhị Long và tứ Long là Âm.

24 tòa núi chia làm thuận và nghịch sơn, tổng cộng có 48 cục diện, Dương Long đi từ bên trái gọi là thuận hành, Âm Long đi từ bên trái gọi là nghịch hành, nói Long tùy Thủy chuyển, lại nói cần quan sát kỹ hơn sơn thể để biết rõ Long mạch. Nếu Thủy lưu là thuận thì Long mạch ắt là nghịch và ngược lại. Ví dụ như Hợi Long, Âm Hợi Long đi từ bên phải là nghịch hành thì Ất Mộc là tổ tông của nó. Dương Hợi Long đi từ bên trái thuận hành thì Giáp Mộc là tổ tông của nó. Một thuận một nghịch, cứ như thế phối hợp sẽ thành 48 cục diện.

Phương hướng của Dương sơn là quay về Dương, hướng thủy lưu của nó cũng quay về Dương, người xưa thường nói như vậy, kỳ thực là hoang đường, nói thế cũng chẳng khác nào nói hướng Dương sơn quay về Âm mà lưu thủy của nó cũng vậy. Nếu hiểu được điều này thì diệu dụng của Âm Dương là một thể, Âm Dương cùng xuất hiện dễ dàng.

Phải dùng huyệt để sai khiến khí của Long Thần, phải dùng phương hướng mà sai khiến khí của Thủy Thần, như thế mới được gọi là Nội tiếp Sinh khí, ngoại tiếp Đường khí. Sơn thế tới kết huyệt phải căn cứ vào sơn hình, Thủy lưu xác định phương hướng phải căn cứ vào đặc điểm của thủy lưu. Biết rõ Âm Dương phân ra, thì cũng biết rõ đạo lý tụ hợp của nó. Nói rằng Dương sơn, phương hướng của nó phải quay về Dương chính là căn cứ vào Thuận Âm Thuần Dương.

Còn về phương hướng của Long thì Dương Long phối hợp Âm hướng, Âm Long phối hợp Dương hướng. Do vậy Âm Dương cùng xuất hiện, phúc đức mãi theo cùng.

24 tòa núi song song từng đôi nổi lên, có không ít người không hiểu được hàm nghĩa trong đó Ngũ Hành phân bố trong 24 tòa núi.

Song song tức là nói tới Âm Dương, 24 tòa núi thuận và nghịch phối hợp thành 48 cục diện do đó gọi là Khởi, phân bố song song cũng là ý này.

Long Thần trên núi không hạ thủy, Long Thần trong thủy không lên núi.

Gọi Long là Thần chính vì khí sinh vượng của Ngũ Hành vận trong đất, thần diệu khôn lường. Sơn và Thủy đều có khí sinh vượng riêng. Nói Sơn phải dùng Sơn Sơn Ngũ Hành phối hợp với Địa Quái để tìm nơi Long nhập thủ.

Sưu tầm - Tôn sư Phong thủy Triệu tiên sinh

(Còn nữa)

Văn phòng Luật sư Triệu Dũng và Cộng sự.
Trụ sở : 15A/302 Minh Khai, Hà Nội, Việt Nam.
Điện thoại : 04. 66556263 - 0942 477375.