Tools
Login
You are here: Trang chủ » KHÁM PHÁ » Phong thủy » Địa lý toàn thư (kỳ 110)
Thứ ba, 12 Tháng 12 2017
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

Địa lý toàn thư (kỳ 110)

Email In PDF.

NỘI TRUYỆN THƯỢNG (tiếp theo)

-    Chính Thần đi xa trăm bộ mới hình thành Long mạch Thủy ngắn thì gặp tai họa; Linh Thần bất kể dài ngắn, cát hung dùng Ngũ Hành để bàn.
Đoạn này nói vê Chính Thần hành Thủy hợp với Quan Vượng, nguồn là dòng rất lớn, xa thì chủ đại quý, nếu xuất hiện tại đồng ruộng hoặc khe rạch thì phải cách 100 bước mới cát, nếu ngắn hơn thì hung. Linh Thần hành Thủy không nhất thiết phải bao bọc nguồn và dòng xa gần, chỉ dùng Ngũ Hành Sinh Vượng Hưu Mộ để luận cát hung. Nếu nó là Chiết Thủy từ Chính Thần chảy ra thì ắt gặp họa, phải chú ý, Chính Thần lên núi, Linh Thần xuống nước, Long Thần trên núi không  xuống nước, Long Thần đáy nước không lên núi. Ở đây dùng Sơn để nói: “Chính Thần hành Thủy cát, ra ngoài trăm bước mới thành Long”.
-    Phụ Mẫu đặt xong, thì tới Tử Túc, nên nhận rõ Sinh Khắc, Long vị trên Thủy phải biết rõ Huynh Đệ cùng Tử Tôn của nó.
    Đoạn này dùng Tứ Kinh Chiết Thủy để nói. Càn Kim là Phụ, Khôn Mộc là Mẫu, Cấn Thủy là Huynh Đệ, Tốn Hỏa là Tử Tôn, cần nhận rõ Ngũ Hanh Sinh Khắc; đặt xong đường Thủy, Công vị để phân biệt họa phúc. “Trên Thủy” chính là Cấn Thủy, Tốn Hỏa vậy.
-    24 chia 2, khi chọn lựa phải xem Ngũ Hành, cần chọn huyệt trong Thủy khi Long giao chiến. Long ở đây là Chính Long khuyết hãm, nếu trước mặt không có hung tướng tương giao phá hủy, không dụng phân biệt thì biết đó là hung họa, phải xem Hung tinh thuộc Công vị nào.
    Đoạn này muốn nói 24 sơn chia Âm Dương, thuận nghịch và dùng nó để phân biệt cát hung, ắt phải xem nó thuộc Ngũ Hành nào chủ quản; trong khi dùng nó để định họa phúc thì tối kỵ Chính Thần giao chiến với Thủy Lộ. Trước mặt không có Hung tướng là muốn nói Thủy Lộ không chỉ là Lộc, Phá mà còn kiêm cả Văn Hung vị, do đó không nên vội quyết đoán hung tướng. Nếu giao chiến tại Hung vị, phải xem đó là Công vị nào, nếu tại cung Tý Dần, tai họa có liên quan đến con trưởng. Ngô công nói:  “Tý Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi tám đường cùng gặp Thủy ắt bị tai họa về đánh đập. Tý Ngọ gặp Thìn Tuất thì chủ về người nam, Mão Dậu gặp Sửu Mùi thì chủ về người nữ. Mão Dậu gặp Thìn Tuất thì Âm Dương không giao nhau, chủ tai họa về kiện tụng thị phi. Dần Thân Tỵ Hợi thuộc Thủy nếu giao chiến với Tý Ngọ Mão Dậu đều chủ về tai họa hình ngục, đánh chém”.
-    Trước định Lai Sơn, sau định lai Hướng, Liên Châu không cùng đặt, cần tìm kỹ tông tích của Ngũ Hành, huyệt phú quý kết là Kim Long. 
    Ở đây nói là Song Sơn Tam Hợp lập hướng. Tỷ như Hợi Không Long lập hướng Giáp Mão Đinh Mùi, Thìn Dậu Long lập hướng Tốn Kỷ Quý Sửu, gọi là Liên Châu Tam Hợp, tất phải xem kỹ hai phương diện Long và Hướng, Ngũ Hành hợp, Sinh Quan Vượng; Sa Thủy ứng, Cục thế Hội mộ Khố; như vậy thì biết phú quý là kết tại toàn cục. Ngô công nói: “Dùng Ngũ Hành của Long để tìm phương vị Sinh Quan Vượng, lập hướng đừng câu nệ về phương vị Âm Dương, chỉ cần Lưu Thần hợp độ thì phương Sinh, chủ gia nhân đông đúc, phương quan Vượng chủ phú quý, nếu Ngũ Hành phối hợp Âm Dương, lập hướng cũng không nên câu nệ, đó chỉ là Âm và Dương”. Dư Giới Thạch nói: “Cổ nhân dùng Âm Tốn Long tìm về hướng Nhâm, là lấy Tân Kim phối với Nhâm Thủy, gọi là Hợi Long; tìm hướng Dần là lấy Dần phối hợp với Hợi, gọi là Hợp, Hợp có trong Phối. Chuế chính là Âm Hợi Long làm hướng Dần, Phối ở trong Hợp”. Lại công nói: “Mộc Dưỡng Sinh Quan Vượng trong Thai, trong mộ huyệt không cần luận tới khuyết điểm của Âm Dương”.
-    Đông Tây Phụ Mẫu Tam Ban Quái, huyệt mộ này quý giá vô cùng, 24 Sơn Lộ đều có quan to, Xuyên Hồng Bì Tử tiến vào Trường An, không phải Phụ Mẫu phong thì không tốt, loại hình thế này chỉ có phú mà thôi.
    Đoạn này nói Đông Tây Nam Bắc giống nhau, cùng phân thành Âm Dương, Quan Vượng. Chủ Sơn là Phụ Mẫu sơn làm Lai Long thì đời đời làm quan to mặc áo tía, nếu không có Quan Vượng và Triều Thủy của bản quái thì chẳng phải lấy Phụ Mẫu sơn làm bản quái, mà là Lai Khứ từ ngoài quái, cho nên huyệt này chủ phú mà không quý, dù có Lục Tú, Sa Thủy ứng với cục thế cũng chỉ là phú quý tạm thời mà thôi.
-    Phụ Mẫu định xong cần xem Tả Hữu, cần rõ tốt xấu của phương vị, của Hướng, Song Sơn lại hướng Thủy là Linh Thần, phú quý trường tồn; nếu gặp Chính Thần thì hung họa, nên phân biệt Ngũ Hành, một Thần các hướng thì cần hai Tử thừa tiếp.
    Ngũ Hành Phụ Mẫu phân làm Âm Dương thuận nghịch. Dùng Thiên Quái để xác định tốt xấu của Thủy Thần. Lập hướng nên theo Can và Chi Long, mà đặt hướng Thủy đến từ Thần thì chủ phú quý trường cửu, nếu lập Chính Thân thì chủ suy vong. Hơn nữa phải dùng Ngũ Hành để biết được họa phúc lớn hay nhỏ, nếu Quan, Vượng, Tử, Tuyệt có liên quan đến hướng nhà ở, thì tai họa của nó sẽ trầm trọng tại phương vị của Quan Vượng, song chỉ bất lợi cho trẻ nhỏ. Dùng Công vị để nói thì nếu chúng xuất hiện tại các cung Ngọ, Thân, Thìn, ắt con thứ sẽ gánh chịu tai họa.


Sưu tầm-Tôn sư Phong thủy Triệu tiên sinh

(Còn nữa)

Văn phòng Luật sư Triệu Dũng và Cộng sự.
Trụ sở : 15A/302 Minh Khai, Hà Nội, Việt Nam.
Điện thoại : 04. 66556263 - 0942 477375.