Tools
Login
You are here: Trang chủ » KHÁM PHÁ » Phong thủy » Địa lý toàn thư (kỳ 109)
Thứ ba, 12 Tháng 12 2017
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

Địa lý toàn thư (kỳ 109)

Email In PDF.

NỘI TRUYỆN THƯỢNG (tiếp theo)

-    Thủy khẩu của Tam Dương đều là nọn nguồn thì phú quý đời đời, Tam Dương, Lục Tú, Nhị Thần hợp với Thế, thì nên tiến vào Đường.
    Tam Dương là Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc, Lục Tú là Cấn, Binh, Tốn, Tân, Đoài, Đinh; Nhị Thần là hai (2) quái. Thủy của Tam Dương chảy về Mộ địa thu hết thủy đầu nguồn thì phú quý đời đời, nếu Tam Dương thủy hợp với phương vị của Lục Tú, nhập cục không rời bản quái Nhị Thần, có thể thấu ngay chúng đóng trong đền miếu.
-    Thủy Đáo Ngọc Nhai Quan Quan thì sẽ xuất hiện thần đồng Trạng Nguyên, tựa Ấn đóng tại Thủy khẩu, Ngọc Nhai tới gần Đoài Đỉnh sẽ được thăng quan tiến chức.
    Càn Khôn Cấn Tốn có lúc được gọi là Ngọc Nhai hoặc Ngự Nhai. Câu trên nói tới Ngọc Nhai Thủy tới chào đón theo phương hướng của Quan Vượng thi sẽ xuất hiện thần đồng Trạng Nguyên. Câu dưới nói tới Ngự Nhai rời Thủy theo phương vị của Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) thì sẽ được thăng quan tiến chức.
-    Cổ Giác thuận thủy lưu mà đi, như thế thì Hồng Bát tươi đẹp tượng trưng cho phú quý sẽ xuất hiện.
    Cổ Giác là chỉ vị trí phía trước một cung của Ngũ Hành Tràng Sinh, sau hai cung là Hồng Bái, có Thủy chào đón Sa, nếu đẹp đẽ thì sẽ phú quý.
-    Bên trên phải chiếu theo Tam Tài và Lục Kiến để sắp đặt ổn thỏa Âm Dương; bên dưới cần theo phương hướng của Ngọc Liên và Hãn Môn, Long đi tới còn cần quay đầu.
Tam Tài là Tam Dương, chỉ Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc; Lục Kiến là Thiên, Địa, Nhân, Tài, Quỷ, Lộc; Ngọc Liên là Ngũ Hành đi nghịch với vị trí Suy: Vị trí Mộc Suy gồm: Quý, Cấn, Ất; Hỏa Suy gồm: Ất, Tốn, Đinh; Thủy Suy gồm: Tân, Càn, Quý. Lại nói Hãn Môn Thủy nên chọn phương hướng của Suy. Cho nên nói bên dưới chiếu theo đó mà đi. Lại gọi Tý, Dần, Thìn, Càn, Bính, Ất là Lục Kiến. Tý là Hãn Môn, Dần là Kỵ Cổ, Thìn là Hoa Biểu, Càn là Ấn Thụ, Bính là Ngọc Nhai, Ất là Ngọc Liên. Cần chú ý Lục Tú không phải là Lục Kiến. Long đi phải quay đầu lại là nói Thủy rời khỏi Quái ắt phải quay về bản quái Phụ Mẫu mới tốt. Ngô công nói: “Ngũ Hành dùng Tràng Sinh làm Thiên Kiến, là khí Âm Dương hóa dục; Dương Mộc, Quan là Địa Kiến, là khí Âm Dương thoát thụ; Đế Vượng là Tài Kiến, tức là khí Âm Dương cực thịnh; Tử, Mộ, Tuyệt là Quỷ Kiến, tức khí Âm Dương ngưng kết; Thai, Dưỡng là Lộc Kiến, tức khí Âm Dương Bắc Phục. Do vậy không nên rời Lộc, Thiên, Nhân Kiến đến đón Lưu Thủy, Tài Quỷ Kiến vào Mộ quấn quanh bản quái Phụ Mẫu, thế mới phù hợp với Toàn Cách ”.
-    Lục Kiến tự phân rõ gọi là Lục Long, danh vang thiên triều; Chính Sơn Chính Thủy ở trên chi mạch của Lưu Thủy, đàn bà trong nhà cô đơn, trẻ nhỏ chết non, người nhà chịu hình luật. 
    Đoạn này bàn về sắp xếp Long trên Thủy, theo Thiên, Nhân, Kiến đến đón Thủy lưu, Tài, Quỷ, Kiến vào Mộ, thì đời sau có người nổi tiếng. Nếu Chính Thần của Long lam chính diện trên Chi mạch, hướng theo Chính Thần của Thủy, thì đời sau ắt gặp họa.
-    Nếu Hướng trở về sơn, đây là Hướng trở về Phụ Mẫu của Thủy lưu; nếu Thủy cùng đi chung với Phụ Mẫu sơn thì đời sau có người làm quan to
Ý của đoạn này là Hướng của Thủy lưu trở về Bản Quái Long vị, ví dụ như Dương Hợi Long làm Giáp, Mão hướng đi về Đinh, Mùi, hợp với Mộ Khố, đây là Thủy lưu quay về. Nếu Âm Hợi Long, Cấn Tốn Bính Thủy đến hợp với Âm Thủy cục đi vào Tuất, Càn, trở lại Mộ Khố, vây quanh Phụ Mẫu bản quái thì chính là cùng đi với Phụ Mẫu sơn, tất nhiên có xuất hiện Tam công, phúc cát kéo dài.
-    Cùng đường với Nhị Thần là Phu Phụ, biện rõ đường của Chân Thần, đã định Âm Dương thì đó chính là Long Cương.
    Đoạn này dùng Tam Hợp Địa Quái để bàn về Long Sơn. Tam Hợp Ngũ Hành lấy Chi mạch là Dương, làm Phu; lấy Can mạch làm Âm, làm Thê Can và Chi mạch đồng hành chính là Phu Phụ cùng đi. Ngô công nói: “Song Sơn Can mạch theo Chi mạch, phân ra Ngũ Hành là chỉ Âm Dương, Thê theo Phu vậy”.
    Tức là lấy Chính Thần làm chủ, ví như Dần Ngọ Tuất là Dương Hỏa Thần; Cấn Bính Tân là Âm Hỏa Thần. Tương ứng cùng Thân Tý Thìn là Dương Thủy Thần; Khôn Nhâm Ất là Âm Thủy Thần; Hợi Mão Mùi là Dương Mộc Thần; Tỵ Dậu Sửu là Dương Kim Thần; Tốn Canh Quý là Âm Kim Thần.

-    Cần phải quan sát Linh của Âm Dương, nên biết hướng của chúng có chính xác không. Nếu gặp Chính Thần Chính Vị, ắt phải đặt Thủy tiến vào Linh Đường; Linh Đường có Chính Hướng thì tốt. Tuyển chọn Lai Sơn bên trên Não Thủy, xếp Long vị ổn thỏa, có như thế mới tốt.
    Đoạn này dùng Song Sơn Tam Hợp để luận 12 chi Âm Dương, Chính Thần thuộc Dương, là Bát Can Tứ Duy. Linh Thần thuộc Âm, khi lập hướng cần biết. Chi Thần không thể làm Chính Hướng ắt phải đặt Thủy tiến vào Can Thần; Can Thần có thể làm Chính Hướng, cũng cần nhận rõ Lai Long là Ngũ Hành nào nhập thủ nhằm tiêu, nạp. Ngô công nói: “Chu Tước khởi nguồn từ sinh khí, phân dòng thì chưa cực thịnh, hướng về Đại Vượng, tưới nhuần Tướng Suy, tiến về Hưu Tạ, cùng là cách xếp đặt Long vị trên Thủy”.


Sưu tầm-Tôn sư Phong thủy Triệu tiên sinh

(Còn nữa)

Văn phòng Luật sư Triệu Dũng và Cộng sự.
Trụ sở : 15A/302 Minh Khai, Hà Nội, Việt Nam.
Điện thoại : 04. 66556263 - 0942 477375.